Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TỨC CHUYÊN NGHÀNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TIN TỨC CHUYÊN NGHÀNH. Hiển thị tất cả bài đăng

18 tháng 6, 2009

Hội thảo chương trình khung ngành Quản lý TDTT và Y sinh học TDTT khối các trường Đại học TDTT

17 Tháng Tư 2009 14:06:00 GMT+7

Ngày 3 - 4/4/2009, tại trường Đại học TDTT Đà Nẵng đã diễn ra Hội thảo chương trình khungngành Quản lý TDTT và Y sinh học TDTT khối các trường Đại học TDTT; GS.TS Lưu Quang Hiệp - Hiệu trưởng Trường Đại học TDTT Bắc Ninh - Chủ tịch Hội đồng đã chủ trì Hội thảo, tham dự Hội thảo có các chuyên gia, các nhà khoa học, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ hàng đầu trong lĩnh vực TDTT cùng đông đủ các thành viên trong Hội đồng.

Trên cơ sở quy định chung của Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc xây dựng chương trình khung trình độ đại học khối ngành TDTT. Theo đó, dự thảo chương trình khung đã bám sát các qui định và hướng dẫn của Bộ Giáo dục & Đào tạo và qui trình xây dựng chương trình khung cho các ngành đào tạo đại học 4 năm theo niên chế. Mục tiêu của chương trình khung giáo dục đại học ngành Quản lý TDTT và Y sinh học TDTT trình độ đại học nhằm thiết kế quá trình đào tạo cử nhân Quản lý TDTT và Y sinh học TDTT đáp ứng nhu cầu về cán bộ quản lý phong trào TDTT và cán bộ Y sinh học TDTT, phục vụ phát triển sự nghiệp TDTT Việt Nam tiên tiến, hiện đại.


Theo các văn bản dự thảo trong việc xây dựng chương trình khung giáo dục đại học ngành Quản lý TDTT và Y sinh học TDTT, về cơ bản các thành viên trong Hội đồng đã thống nhất tên gọi chương trình khung của hai ngành là Quản lý TDTT và Y sinh học TDTT; Về mục tiêu đào tạo của khung chương trình ngành Quản lý TDTT cần cụ thể hóa là đào tạo cử nhân quản lý TDTT có kỹ năng vận dụng các phương pháp quản lý và có khả năng tổ chức, điều hành hoạt động quản lý trong các lĩnh vực TDTT. Ví dụ đào tạo các cán bộ làm công tác quản lý không chỉ ở phong trào TDTT mà ở các lĩnh vực khác như: Huấn luyện Thể thao, Câu lạc bộ TDTT…

Tại Hội thảo, các thành viên tham dự đã có nhiều ý kiến đóng góp thiết thực cho dự thảo chương trình. Đối với ngành Y sinh học TDTT, mục tiêu đào tạo đề cập trong chương trình khung cần làm rõ đối tượng đào tạo sẽ làm gì? ở lĩnh vực nào? Có thể nêu rõ là đào tạo cán bộ giảng dạy Y sinh học tại các trường chuyên và không chuyên TDTT hoặc là đào tạo cán bộ nghiên cứu Y sinh học TDTT (sử dụng thành tạo các máy móc thiết bị y học…).

Về chương trình đào tạo đối với ngành Quản lý TDTT cần điều chỉnh một số môn học về thời lượng (đơn vị học trình) cho phù hợp với đặc thù của ngành đào tạo. Đối với ngành Y sinh học TDTT cần cân đối lại giữa khối lượng kiến thức cơ sở ngành và kiến thức ngành cho phù hợp với mục tiêu đào tạo; Điều chỉnh tên danh mục các môn học đồng thời thêm một số môn học vào phần tự chọn cho phù hợp với chương trình khung ngành Y sinh học TDTT như: Yoga, Dưỡng sinh, Aerobic, CLB sức khỏe… Lược bỏ một vài môn không phục vụ mục tiêu đào tạo như môn: Âm nhạc vũ đạo trong phần kiến thức giáo dục đại cương; Cần sắp xếp các môn trong khung chương trình hợp lý hơn cho thống nhất với các chương trình khung các ngành học trong cùng khối ngành TDTT.

Kết thúc hội thảo, PGS.TS Lưu Quang Hiệp - Chủ tịch Hội đồng đã đánh giá cao tinh thần làm việc của các thành viên tại Hội thảo, đồng thời nhất trí với tên gọi của hai ngành là Quản lý TDTT và Y sinh học TDTT; Nội dung giáo dục thể chất là yêu cầu môn học đặc trưng và bắt buộc đối với sinh viên các trường thuộc các ngành khác, đối với các trường chuyên ngành TDTT nên bỏ hoặc kiến nghị miễn học, do nội dung này đã triển khai ở khối kiến thức cơ sở của ngành. Các môn học trong khối kiến thức chính của ngành học cần bổ sung thêm các học phần: Dịch tế học; Doping trong thể thao; Tổ chức học; Miễn dịch học ..; Đồng thời, Chủ tịch Hội đồng đã giao cho ban thư ký khẩn trương hoàn thiện dự thảo chương trình khung ở các mục theo yêu cầu đóng góp ý kiến của các thành viên nhằm chuẩn bị tốt cho Hội thảo lần thứ 2 tại Viện Khoa học TDTT trong thời gian sớm nhất.





23 tháng 11, 2008

GIỚI THIỆU VỀ KHOA Y HỌC THỂ DỤC THỂ THAO

Nguyễn Hải-Khoa : Y-Sinh Học-đăng tải
Nhấn vào link liên kết để tải bài viết về máy :

-Trong những thành công của thể t
hao Việt Nam luôn có sự đóng góp của lực lượng bác sĩ thể thao, cán bộ y học thể thao. Tuy nhiên, lực lượng này còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng. Hiện nay trong ngành TDTT có hơn 90 bác sĩ và cán bộ y học thể thao đang công tác tại Viện Khoa học TDTT, các trường Đại học TDTT, các Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia, các Sở TDTT tỉnh, thành, các ngành TDTT Quân đội và Công an nhân dân. Trong đó, chỉ có 6 bác sĩ có trình độ sau đại học chuyên ngành Y học thể thao. Về chất lượng đội ngũ bác sĩ thể thao còn ở mức thấp vì nước ta chưa đào tạo một cách cơ bản và các điều kiện đảm bảo cho hoạt động y học thể thao còn thiếu thốn. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc hoàn thành nhiệm vụ của y học thể thao đối với nhu cầu phát triển của sự nghiệp TDTT ở nước ta hiện nay.
-Đứng trước thực tế đó, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển sự nghiệp TDTT hiện nay, đồng thời theo đúng xu thế thời đại. Được sự đồng ý của Bộ giáo dục đào tạo, Bộ văn hóa ,thể thao và du lịch, Trường Đại học TDTT Bắc Ninh, cái nôi đào tạo cán bộ TDTT cho cả nước đã thành lập khoa Y học TDTT vào ngày 04 tháng 9 năm 2007. Trải qua quá trình hình thành và phát triển của trường từ năm 1976, Trường đã đào tạo chuyên ngành Y học TDTT được ba khoá (khoá Y học 12, 13 và 14). Sinh viên các khoá ra trường đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhiều sinh viên đã trưởng thành và giữ các chức vụ cao trong ngành, đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khoẻ và tuyển chọn VĐV, trở thành các giáo viên y sinh học TDTT trong các trường Cao đẳng và Đại học TDTT, không ngừng tích cực tham gia công tác nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, trong giai đoạn đó, các yếu tố về con người, cơ sở vật chất của Trường chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo, do vậy sau 30 năm, kể từ khoá học đầu tiên, Trường ĐH TDTT Bắc Ninh tiếp tục đào tạo cán bộ Y học TDTT cho ngành. Hiện nay, khoa Y học Trường Đại học TDTT Bắc Ninh có 42 sinh viên, chương trình khoá học được đào tạo trong 4 năm với 68 học phần, 173 học trình. Ngoài các môn học bắt buộc nằm trong đào tạo chung, các sinh viên của khoa được học chuyên sâu về lĩnh vực của mình gồm các môn: Hóa hữu cơ, giải phẫu vận động, vệ sinh các môn TT, sinh cơ các môn TT, sinh lý vận động, sinh lý bệnh, bệnh học ngoại khoa, nội khoa, sinh hóa TDTT, thể dục chữa bệnh, vận động học, kiểm tra Y học, xoa bóp TT, dược học, đông y, y tế cơ sở, dinh dưỡng TT, hồi phục TT và vật lý trị liệu, Di truyền học và tuyển chọn...

I.Mục tiêu đào tạo của nghành y học TDTT

1.Về phẩm chất chính trị đạo đức:

- Có tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; Nắm vững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chấp hành đúng luật pháp của nhà nước và các quy định của nghành; là những công dân tốt trong cộng đồng xã hội.

- Trung thành với tổ quốc, hết lòng hết sức phấn đấu cho sự nghiệp TDTT và nâng cao sức khỏe của nhân dân.

- Đoàn kết, khiêm tốn, không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, sẵn sàng giúp đỡ mọi người trong các vấn đề chuyên môn và nghiệp vụ.

- Có lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị, nêu gương tốt cho mọi người.

2. Về năng lực chuyên môn:

Đào tạo những cử nhân Y học TDTT là những chuyên gia về Y học TDTT có khả năng:

- Nắm vững cơ sở lý luận và thực hành của chuyên nghành Y sinh học TDTT và các lĩnh vực khoa học có liên quan, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật tiến tiến vào trong công tác HL và giảng dạy TDTT.

- Trang bị đầy đủ tri thức về nguyên nhân, cơ chế, triệu chứng lâm sàng, phương pháp xử lý bước đầu, phương pháp điều trị và đề phòng các chấn thương, các trạng thái bệnh lý trong hoạt động TDTT.

3. Chức năng công tác (năng lực công tác)

Có khả năng làm việc trong các trường Trung học, trường Đại học, bệnh viện, các Viện nghiên cứu khoa học về thể thao, trong các liên đoàn thể thao, cơ quan ủy ban Olympic Việt Nam.

Cử nhân y học thể thao có năng lực:

- Đảm nhận tốt công tác giảng dạy các môn y sinh học TDTT như giải phẫu vận động, sinh lý TDTT, y học TDTT, vệ sinh TDTT, sinh cơ TDTT, sinh hoá TDTT trong các trường Đại học và cao đẳng TDTT.

- Có khả năng công tác nghiên cứu khoa học TDTT trong các viện nghiên cứu.

- Đảm nhận tốt công tác giảng dạy TDTT cũng như chăm sóc hay theo dõi sức khỏe và năng lực vận động của VĐV học sinh trong các trường phổ thông và chuyên nghiệp.

- Công tác trong các bệnh viện (có năng lực tham gia chẩn đoán, đánh giá, chỉ dẫn, điều trị bằng vận động, lý liệu pháp cho các VĐV và bệnh nhân trong các bệnh viện).

- Có khả năng đảm nhiệm mọi công tác y tế trong các đội tuyển thể thao, trung tâm và câu lạc bộ TDTT, làm tốt công tác hồi phục năng lực vận động cho VĐV, đánh giá khả năng thích nghi với hình thức phương pháp và lượng vận động tập luyện để cùng với HLV điều chỉnh quá trình huấn luyện.
-Biết phát hiện sớm các chấn thương và các trạng thái bệnh lý thường gặp trong tập luyện và thi đấu thể thao. Phòng ngừa và xử lý bước đầu được các chấn thương thể thao.

- Biết ứng dụng và thực hành thành thạo một số phương tiện kỹ thuật y sinh hiện đại đáp ứng công tác nghiên cứu khoa học. Các phương pháp hồi phục và điều trị chấn thương.
- Có khả năng giáo dục và cố vấn cho VĐV cũng như đội Y học TDTT về chăm sóc sức khỏe và đề phòng các chấn thương, các bệnh thường gặp trong hoạt động TDTT.
- Biết tổ chức và điều hành những hoạt động y tế trong hoạt động thể thao.

II. Thời gian đào tạo: 4 năm

Hệ chính quy tập trung, đào tạo 4 năm gồm 8 học kỳ.

III. Khối lượng kiến thức toàn khóa: Bao gồm

- Các môn đại cương: 885 tiết

- Các môn cơ sở và kiến thức chuyên môn: 1035 tiết

- Các môn cơ sở và kiến thức chuyên môn nghành: 780 tiết

Thực tập nghiệp vụ: 10 tuần

Thi học phần: 16 tuần

Luận văn hoặc thi cuối khóa: 150 tiết

Tổng giờ: 2700 giờ trong đó có 173 đơn vị học trình 68 học phần không kể 165 giờ giáo dục quốc phòng.

16 tháng 11, 2008

Những Điều Lệ Về Y Đức Trong Y Học Thể Dục Thể Thao

Nguyễn Hải-Khoa : Y-Sinh Học T.D.T.T.cập nhật

(Tuyên bố sau đây được Ban Chấp Hành Liên Đoàn Y Học Thể Dục Thể Thao Quốc Tế FIMS thông qua ngày 23/9/1997)
Nhấn vào link liên kết để download bài viết về máy :

I. VỀ Y ĐỨC NÓI CHUNG: Những nguyên tằc đạo đức trong y khoa đều được áp dụng trong y học thể dục thể thao. Chức năng chủ yếu của người bác sĩ gồm:
Luôn đặt sức khỏe của VĐV lên hàng đầu
Không làm tổn hại sức khỏe VĐV
Không áp đặt quyền bác sĩ vào các quyền quyết định cá nhân của VĐV

II. ĐẠO ĐỨC TRONG Y KHOA THỂ THAO:

Bác sĩ chăm sóc cho VĐV dù ở lứa tuổi nào cũng phải hiểu được những nhu cầu cụ thể về thể chất, tinh thần và tình cảm của họ trong những hoạt động thể thao và rèn luyện thể dục thể thao.
Có một mối liên hệ khác tồn tại giữa bác sĩ thể thao, người thuê họ, tổ chức thể thao, các chuyên gia và VĐV. Trong y khoa thể thao còn có mối liên hệ giữa mối lo bệnh lý với các hoạt động giải trí cũng như chuyên nghiệp. Một chấn thương thể thao tác động trực tiếp đến quá trình tham gia hoạt động, liên quan đến mặt tâm lý và tài chính. Sự khác biệt rõ nhất giữa y học thể thao và những lĩnh vực y khoa khác là nói chung các VĐV được điều trị đều khỏe mạnh.Nên phân biệt giữa đạo đức trong y học thể dục thể thao và luật pháp khi nó liên quan đến thể thao. Một bên đề cập đến những giá trị đạo đức, bên kia lại đề cập đến một hệ thống những quy luật bắt buộc. Mặc dù hoàn toàn phù hợp khi luật pháp có nền tảng từ những quy luật đạo đức và vấn đề đạo đức trong sự ủng hộ hợp pháp của pháp luật, nhưng không phải mọi cái bất hợp pháp đều là vô đạo đức và trái lại cũng không phải mọi hành vi vô đạo đức là trái luật. Do đó, đạo đức trong y khoa thể thao không liên quan đến quy luật xã hội hay luật pháp, mà nó liên quan chủ yếu đến những giá trị đạo đức cơ bản.

III. NHỮNG VẦN ĐỀ Y ĐỨC ĐẶC BIỆT TRONG Y KHOA THỂ THAO:

Chức năng của bác sĩ trước hết phải là sự quan tâm dành cho VĐV, hợp đồng và những trách nhiệm khác đều chỉ có tầm quan trọng phụ. Một quyết định y khoa đưa ra là phải trung thực và bắt nguồn từ lương tâm người bác sĩ. Quy tắc y đức cơ bản trong chăm sóc sức khỏe là việc tôn trọng quyền tự quyết, một yếu tố cần thiết trong quyền tự quyết là kiến thức. Không thể đạt được sự chấp thuận bằng cách là "hao mòn" quyền tự quyết của VĐV. Như vậy, không cung cầp thông tin cần thiết cũng sẽ vi phạm quyền tự quyết của VĐV. Trung thực là phẩm chất quan trọng trong y đức. Nhiệm vụ hàng đầu của y đức là thông tin đầy đủ về khả năng của VĐV, đó là điều cần thiết giúp bệnh nhân quyết định và thực hiện quyền tự quyết.Sự tôn trọng cao nhất sẽ luôn được duy trì vì tính mạng và sức khỏe con người. Không động cơ lợi nhuận nào được phép ảnh hưởng đến việc thực hiện phương thức hay chức năng trong y học thể dục thể thao.

IV. MỐI QUAN HỆ GIỮA VĐV VÀ BÁC SĨ:

Bác sĩ không được để tư tưởng tôn giáo, quốc tịch, chủng tộc, chính trị hay xã hội nào xen vào chức năng của họ và các VĐV.
Nền tảng cơ bản của mối quan hệ giữa bác sĩ và VĐV luôn là sự tin tưởng tuyệt đối tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. VĐV luôn có thể trông cậy vào việc vận dụng kỹ năng chuyên môn của người bác sĩ … Lời khuyên bác sĩ đưa ra và việc làm của họ luôn quan tâm tối đa đến VĐV.
Bí mật riêng tư của VĐV phải được giữ kín.
Những quy định liên quan đến hồ sơ y khoa trong chăn sóc sức khỏe và y tế cũng được áp dụng trong y học thể thao. Bác sĩ thể thao nên luôn giữ một bộ hồ sơ đầy đủ và chính xác về bệnh nhân.
Trước mối quan tâm mạnh mẽ của công chúng và các phương tiện truyền thông đại chúng bác sĩ nên thảo luận với VĐV xem thông tin nào có thể đăng tải.
Khi đảm trách vai trò bác sĩ của một đội tuyển, bác sĩ thể thao chịu trách nhiệm động viên các VĐV cũng như động viên người quản lý và HLV. Mỗi VĐV cần được thông báo về trách nhiệm trên và họ buộc phải chấp nhận để bác sĩ tiết lộ những thông tin về y tế, nhưng chỉ tiết lộ đối với những người có chức năng và vì mục đích quyết định sức khỏe của VĐV tham dự.Bác sĩ thể thao sẽ thông báo cho VĐV về việc điều trị, việc sử dụng thuốc và hậu quả có thể xảy ra và tiến hành yêu cầu VĐV cho phép chữa trị.
Bác sĩ của đội có thể giải thích cho VĐV rằng họ có quyền tự do tham vấn một bác sĩ khác.

V. LUYỆN TẬP VÀ THI ĐẤU:

Bác sĩ y học thể dục thể thao nên phản đối những quy tắc huấn luyện, luyện tập và thi đấu nguy hại đến sức khỏe của VĐV. Nói chung, bác sĩ nên nắm bắt nhu cầu tinh thần cụ thể của VĐV khi họ tham gia vào các hoạt động thể thao. Những khía cạnh của phương diện này bao gồm khả năng chuyên môn, tính hiệu quả và an toàn.
Nếu VĐV là trẻ em hay trẻ đang trưởng thành, bác sĩ phải xem xét những nguy cơ đặc biệt đối với các môn thể thao giành cho lứa tuổi chưa phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tâm lý mà hiện nay vẫn còn gây nhiều tranh luận. Khi VĐV tham gia là trẻ đang trưởng thành, bác sĩ thể thao phải đảm bảo việc luyện tập và thi đấu thích hợp với sự trưởng thành và phát triển của chúng (4). Bác sĩ nên đóng góp vào việc tuyên truyền hay thông tin những điều kiện đặc biệt liên quan đến việc luyện tập và thi đấu của VĐV nhỏ tuổi. Những thông tin này nhất thiết cũng phải được thông báo cho VĐV, cha mẹ, người giám hộ, người huấn luyện.

VI. GIÁO DỤC:

Các bác sĩ y học thể thao nên tham gia các khóa giáo dục thường xuyên để nâng cao và duy trì kiến thức cũng như kỹ năng để luôn có những lời khuyên và sự chăm sóc tốt nhất cho VĐV. Nên chia sẻ kiến thức với những đồng nghiệp cùng lĩnh vực.

VII. TĂNG CƯỜNG SỨC KHỎE:

Bác sĩ y học thể dục thể thao phải giáo dục cho mọi lứa tuổi lợi ích của các hoạt động thể dục thể thao đối với sức khỏe.

VIII. CHẤN THƯƠNG VÀ VĐV:

Trách nhiệm của bác sĩ y học thể dục thể thao là quyết định xem VĐV bị thương có nên tiếp tục tập luyện và thi đấu không. Bác sĩ không nên để kết quả thi đấu hay HLV làm ảnh hưởng đến quyết định của mình, chỉ những nguy hại và hậu quả đối với sức khỏe của VĐV mới là quan trọng.
Nếu bác sĩ nhận thấy một môn thể thao nào đó gây ra những nguy hại nghiêm trọng cho VĐV, ông nên cố gắng loại bỏ nguy cơ đó bằng cách dùng áp lực của mình tác động lêm các VĐV cũng như những người có thẩm quyền quyết định.Phòng ngừa chấn thương luôn là yêu cầu đầu tiên.

IX. PHƯƠNG PHÁP LUYỆN TẬP CHỮA BỆNH:

Với sự trợ giúp của các nghiên cứu khoa học, bài luyện tập chi tiết nên trở thành một phần của kế hoạch chữa bệnh cho VĐV phục hồi sau chấn thương hoặc bênh tật.

X. QUAN HỆ VỚI CÁC CHUYÊN GIA:

Bác sĩ y học thể thao nên công tác với các chuyên gia ngành khác. Bác sĩ nên hợp tác với những nhà vật lý trị liệu, pediatrists, bác sĩ nhi khoa, nhà tâm lý học, những nhà khoa học về thể thao cũng như những nhà sinh lý học, sinh hóa học v.v… Bác sĩ thể thao chịu trách nhiệm cuối cùng về sức khỏe và thể trạng của VĐV, do đó nên lần lượt phối hợp vai trò của các chuyên gia trên, và những chuyên khoa y khoa liên quan trong phòng ngừa, điều trị, phục hồi và chấn thương. Khái niệm công việc tập thể kết hợp nhiều ngành khác nhau là nền tảng của y học thể thao.
Bác sĩ y học thể thao nên cư xử với đồng nghiệp và cộng sự như anh ta mong muốn được đáp lại.
Khi bác sĩ nhận thấy những vấn đề của VĐV ngoài khả năng chuyên môn của mình, ông nên khuyên VĐV đến những người khác với chuyên môn cần thiết và hướng dẫn họ đến những người liên quan đó nhờ trợ giúp. XI. QUAN HỆ VỚI CÁC VIÊN CHỨC, CÂU LẠC BỘ V.V…:
Ở nơi thi đấu, trách nhiệm của bác sĩ y học thể dục thể thao là quyết định khi nào VĐV bị chấn thương có thể tham gia trở lại thi đấu. Bác sĩ không nên ủy thác quyết định này cho ai khác. Trong mọi trường hợp, điều tối quan trọng vẫn là sức khỏe và sự an toàn của VĐV. Kết quả thi đấu không làm ảnh hưởng quyết định của bác sĩ.
Để bác sĩ y học thể dục thể thao có thể đảm bảo trách nhiệm y đức, người bác sĩ phải khẳng định được quyền tự quyết chuyên môn và trách nhiệm đối với mọi quyết định y khoa liên quan đến sức khỏe, sự an toàn và lợi ích chính đáng của VĐV. Người thứ ba không nên tác động vào quyết định này.
Bác sĩ không cung cấp thông tin này cho người thứ ba mà không có sự đồng y của VĐV.

XII. LẠM DỤNG THUỐC DOPING:

Bác sĩ y học thể dục thể thao nên chống đối và thực hiện ngăn chặn việc sử dụng những phương pháp để tăng thành tích thi đấu một cách cố ý, chẳng hạn những phương pháp đã bị ủy ban Olympic quốc tế IOC cấm.
Các bác sĩ đã phản đối mạnh mẽ việc sử dụng những phương pháp không phù hợp với y đức và thực nghiệm khoa học. Do đó việc sử dụng doping dưới mọi hình thức đều không chấp nhận được vì nó hoàn toàn trái với y đức. Và dù thế nào đi nữa cũng không thể chấp nhận được việc che giấu đau đớn của VĐV để họ có thể trở lại luyện tập dù có thể có nguy cơ làm trầm trọng thêm chấn thương.

XIII. NGHIÊN CỨU:

Việc nghiên cứu nên tiến hành theo những quy tắc đạo đức đã được chấp nhận đối với động vật và đối tượng là con người. Không nên tiến hành nghiên cứu trên phương thức có thể làm bị thương hoặc nguy hại đến khả năng thi đấu của VĐV.

Liên Kết Các Bài Viết Khác

___________________________________________